Kết quả triển khai thí điểm sinh viên là giảng viên tại Bộ Môn Nội - Trường Đại Học Y Dược Thái Bình
PDF Download: 0 View: 2

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Chương trình Sinh viên là giảng viên đã được triển khai ở nhièu trường Y tại Việt Nam cũng như quốc tẻ và đă mang lại nhièu hiệu quả tích cực. Hoạt động này giúp xây dựng năng lực giảng dạy của bác sĩ khi hành nghề, giảm áp lực cho giảng viên trong điều kiện đông sinh viên và nâng cao chát lượng học. Chương trình này đã được các giảng viên của trường Đại học Y Harvard giới thiệu, lần đầu được ứiển khai thí điếm tại bộ môn Nội Trường Đại học Y Dược Thái Bình trong năm học 2019-2020.

Phương pháp: 04 học viên nội Ưủ thuộc bộ môn Nội được đào tạo về kỹ năng giảng dạy lâm sàng và theo dõi sinh viên. Sau đó các học viên được phân công theo dõi và giáng dạy cho các nhóm sinh viên Y3 đi thực hành vòng Nôi cơ sờ. Mổi học viên nội trú thực hiện 03 buổi giảng cho sinh viên Y3 vè các kỹ năng khám hệ cơ quan cơ bản. Điểm kỹ nàng lâm sàng của sinh viên Y3 được so sánh với nhóm đối chứng là sinh viên Y3 do nhóm giảng viên bộ môn giảng. Hiệu quà của chương trình cũng được đánh giá thông qua bàng kiểm quan sát giờ giảng của học viên nội trú, phiếu tự đánh giá của sinh viên nội trú và sinh viên Y3.

Kết quả: các học viên nội trú đèu có hứng thú giáng dạy và hoàn thành tốt, đạt ưung bình ở buổi giảng thứ ba là 22,5/24 bước của 1 buổi giảng. Trong buổi giảng đầu tiên. 3/4 sinh viên nội trú thấy tự tin về khã năng chuyên môn khi trình bày, nhưng sự tự tin về kỷ năng giảng dạy tháp hơn, 2/4 em tương đương 50%. Sự tự tin cả vè chuyên môn và kỹ nâng giảng dạy tâng dần theo số buổi giảng. Điẻm kỷ năng khám lâm sàng của sinh viên Y3 trong nhóm thử nghiệm tương đương với điểm của sinh viên Y3 nhóm đối chứng (7,5 ± 1,3 so với 7,6 ±1,9 điém, p > 0,05).

Kết luận: Chương trình Sinh viên là Giảng viên đã mang lại hiệu quà tích cực. cần tăng cường tổ chức việc đào tạo kỹ năng giảng dạy cho học viên, việc quan sát và phân hồi cho học viên ở những buổi giảng đầu tiên. Việc phân công nhóm cố định giữa sinh viên và học viên cũng là yếu tố quan trọng đế giúp nâng cao hiệu quả cùa chương trình.

https://doi.org/10.2345/tbjmp.01.2021.84

WHO (2005), Chapter 3: Not Every Pregnancy is Welcome, http://www.who.int/whr/2005/chapter3/en/index3.html.

Family Planning Counselling and Services Center for Population (2018), Data on Reproductive Health and Family Planning, http://www.gopfp.gov.vn/20267.

Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá Gia đình (2020), Tỷ lệ nạo/phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt chia theo thành thị/nông thôn, 2007-2017, truy cập ngày 01/11-2020, tại trang web http://gopfp.gov.vn/trang-tin-chi-tiet-so-lieu/-/chi-tiet/ty-le-nao-pha-thai-va-hut-%C4%91ieu-hoa-kinh-nguyet-chia-theo-thanh-thi-nong-thon-2007-2017-9603-5.html.

Nguyễn Đức Vinh và Nguyễn Tuấn Hưng (2012), "Một số nhận xét kết quả hoạt động cung cấp các biện pháp tránh thai, giảm phá thai, phá thai an toàn năm 2011", Tạp chí Y học thực hành. 829(7), tr. 36-38.

The Lancet (2018), "Abortion: access and safety worldwide", The Lancet. 391(10126), 1121.

P. S. Wang et al. (2007), "Use of mental health services for anxiety, mood, and substance disorders in 17 countries in the WHO world mental health surveys", Lancet. 370(9590), 841-50.

Sở Y tế Hà Nội (2017), 30% dân số Việt Nam có rối loạn tâm thần, truy cập ngày 04/11-2020, tại trang web https://soyte.hanoi.gov.vn/vi/news/tin-tuc-chung/30-dan-so-viet-nam-co-roi-loan-tam-than-1590.html.

Nguyễn Thị Thuý Hạnh, Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2020), "Lo âu ở phụ nữ đến phá thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019", Tạp chí Nghiên cứu y học. 129(5), tr. 286-294.

T. D. Tran, T. Tran and J. Fisher (2013), "Validation of the depression anxiety stress scales (DASS) 21 as a screening instrument for depression and anxiety in a rural community-based cohort of northern Vietnamese women", BMC Psychiatry. 13, 24.

Z. Bradshaw and P. Slade (2003), "The effects of induced abortion on emotional experiences and relationships: a critical review of the literature", Clin Psychol Rev. 23(7), 929-58.

Nguyen Thi Ngoc Anh, Tran Tho Nhi, Nguyen Thi Thuy Hanh (2019), "Depression among women to abortion in Hanoi Obstetrics and Gynecology hospital in 2018", Journal of Clinical Medicine. 5, 80-88.

D. Sit et al. (2007), "Psychiatric outcomes following medical and surgical abortion", Hum Reprod. 22(3), 878-84.

N. P. Mota, M. Burnett and J. Sareen (2010), "Associations between abortion, mental disorders, and suicidal behaviour in a nationally representative sample", Can J Psychiatry. 55(4), 239-47..

V. M. Rue et al. (2004), "Induced abortion and traumatic stress: a preliminary comparison of American and Russian women", Med Sci Monit. 10(10), Sr5-16.

Nguyễn Thị Minh Đức (2014), Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con phá thai đến 12 tuần tại Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương, Đại Học Y Hà Nội.

Toàn văn
PDF Download: 0 View: 2
Ngôn ngữ
Số tạp chí T. 1 S. 01 (2021)
Phân mục Nghiên cứu
DOI 10.2345/tbjmp.01.2021.84
Từ khóa sinh viên, sinh viên là giảng viên, giảng lâm sàng students, students who are lecturers, clinical lecturers

Giấy phép Creative Commons

Tác phẩm này được cấp phép theo Giấy phép quốc tế Creative Commons Attribution-NonCommercial-NoDeri Phái sinh 4.0 .

Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Y Dược Thái Bình

Vũ , T. B., Mai , V. T., Lê , Đình T., & Lê , M. H. . (2022). Kết quả triển khai thí điểm sinh viên là giảng viên tại Bộ Môn Nội - Trường Đại Học Y Dược Thái Bình. Tạp Chí Y Dược học Vinh, 1(01), 70–72. https://doi.org/10.2345/tbjmp.01.2021.84
Giấy phép xuất bản bản in số 797/GP-BTTTT ngày 06/12/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông
© 2022 Trường Đại học Y khoa Vinh - Xây dựng bởi OJSVN