Sự hài lòng của sinh viên về hình thức thi trực tuyến trong bối cảnh covid-19
PDF Download: 9 View: 18

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Kê từ tháng 5 năm 2021. trước sự bùng phát đại dịch COVID-19 lớn nhất tại Việt Nam. tại Khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật Y Học (NMT), Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, hình thức đào tạo từ xa đã được lựa chọn đẻ giảng dạy và đánh giá cho sinh viên nhăm đàm báo sự an toàn và sức khóe của người học, đồng thời phù hợp với xu hướng hiện tại.

Mục tiêu nghiên cứu: Mục đích của nghiên cứu cắt ngang này là đánh giá mức độ hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng cùa sinh viên đối với các kỳ thi điện tử từ xa (E-exam) cùa sinh viên

Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: Một nghiên cứu cắt ngang đã được thực hiện trên 1554 sinh viên cử nhân đã trài nghiệm hlnh thức thi trực tuyến. Khảo sát bầng cách sử dụng Ms. Forms và được gừi qua các nền tảng E-learning cùa sinh viên. Cuộc khảo sát bao gồm 20 mục với thang điẻm Likert nãm cấp độ về nhận thức của sinh viên đối với kỳ thi trực tuyến gồm: cơ sở hạ tầng kỹ thuật-TI (2 mục), thiết lập kỳ thi-SE (9 mục), sự hỗ trợ từ Khoa vã Nhã trường-AFF (5 mục), vả mức độ hài lòng chung của sinh viên đối với các kỳ thi trực tuyến (4 mục).

Kết quả: Điểm trung binh chung về mức độ hài lòng của sinh viên đối với kỳ thi trực tuyến là 3,84 (± 0,64); trong khi với TI, SE, AFF lần lượt là 3,94 (± 0,61); 3,97 (± 0,54); 4,1 (± 0,56); Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh đồng ý tham gia các kỳ thi trực tuyến trong tương lai không cao, chỉ chiếm 69,5%. Có sự liên quan đáng kề giữa điểm trung bình về mức độ hài lòng cúa sinh viên với tuổi, giới tính, trinh độ học tập, chuyên ngành (p <0,001). Đặc biệt, mức độ hài lòng của sinh viên đối với các kỳ thi trực tuyến có mối tương quan thuận với TI, SE và AFF (p <0,001).

Kết luận: Mức độ hài lòng của sinh viên đối với các kỳ thi trực tuyến là khá cao, nhưng sinh viên NMT ít ưu tiên cho các kỳ thi trực tuyến trong tương lai hơn. Và, có mối tương quan tích cực giữa mức độ hài lòng của sinh viên đối với TI, SE và AFF. Do đỏ, trong tương lai, việc cài thiện chẩt lượng của các yếu tổ này cỏ thế làm tăng mức độ hài lòng của sinh viên đối với các kỳ thi Điện từ.

https://doi.org/10.2345/tbjmp.01.2021.76

WHO (2005), Chapter 3: Not Every Pregnancy is Welcome, http://www.who.int/whr/2005/chapter3/en/index3.html.

Family Planning Counselling and Services Center for Population (2018), Data on Reproductive Health and Family Planning, http://www.gopfp.gov.vn/20267.

Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá Gia đình (2020), Tỷ lệ nạo/phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt chia theo thành thị/nông thôn, 2007-2017, truy cập ngày 01/11-2020, tại trang web http://gopfp.gov.vn/trang-tin-chi-tiet-so-lieu/-/chi-tiet/ty-le-nao-pha-thai-va-hut-%C4%91ieu-hoa-kinh-nguyet-chia-theo-thanh-thi-nong-thon-2007-2017-9603-5.html.

Nguyễn Đức Vinh và Nguyễn Tuấn Hưng (2012), "Một số nhận xét kết quả hoạt động cung cấp các biện pháp tránh thai, giảm phá thai, phá thai an toàn năm 2011", Tạp chí Y học thực hành. 829(7), tr. 36-38.

The Lancet (2018), "Abortion: access and safety worldwide", The Lancet. 391(10126), 1121.

P. S. Wang et al. (2007), "Use of mental health services for anxiety, mood, and substance disorders in 17 countries in the WHO world mental health surveys", Lancet. 370(9590), 841-50.

Sở Y tế Hà Nội (2017), 30% dân số Việt Nam có rối loạn tâm thần, truy cập ngày 04/11-2020, tại trang web https://soyte.hanoi.gov.vn/vi/news/tin-tuc-chung/30-dan-so-viet-nam-co-roi-loan-tam-than-1590.html.

Nguyễn Thị Thuý Hạnh, Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2020), "Lo âu ở phụ nữ đến phá thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019", Tạp chí Nghiên cứu y học. 129(5), tr. 286-294.

T. D. Tran, T. Tran and J. Fisher (2013), "Validation of the depression anxiety stress scales (DASS) 21 as a screening instrument for depression and anxiety in a rural community-based cohort of northern Vietnamese women", BMC Psychiatry. 13, 24.

Z. Bradshaw and P. Slade (2003), "The effects of induced abortion on emotional experiences and relationships: a critical review of the literature", Clin Psychol Rev. 23(7), 929-58.

Nguyen Thi Ngoc Anh, Tran Tho Nhi, Nguyen Thi Thuy Hanh (2019), "Depression among women to abortion in Hanoi Obstetrics and Gynecology hospital in 2018", Journal of Clinical Medicine. 5, 80-88.

D. Sit et al. (2007), "Psychiatric outcomes following medical and surgical abortion", Hum Reprod. 22(3), 878-84.

N. P. Mota, M. Burnett and J. Sareen (2010), "Associations between abortion, mental disorders, and suicidal behaviour in a nationally representative sample", Can J Psychiatry. 55(4), 239-47..

V. M. Rue et al. (2004), "Induced abortion and traumatic stress: a preliminary comparison of American and Russian women", Med Sci Monit. 10(10), Sr5-16.

Nguyễn Thị Minh Đức (2014), Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con phá thai đến 12 tuần tại Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương, Đại Học Y Hà Nội.

Toàn văn
PDF Download: 9 View: 18
Ngôn ngữ
Số tạp chí T. 1 S. 01 (2021)
Phân mục Nghiên cứu
DOI 10.2345/tbjmp.01.2021.76
Từ khóa

Giấy phép Creative Commons

Tác phẩm này được cấp phép theo Giấy phép quốc tế Creative Commons Attribution-NonCommercial-NoDeri Phái sinh 4.0 .

Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Y Dược Thái Bình

Phạm , T. Ánh H., Nguyễn , V. V. T. N., & Lê , T. C. T. (2022). Sự hài lòng của sinh viên về hình thức thi trực tuyến trong bối cảnh covid-19. Tạp Chí Y Dược học Vinh, 1(01), 48–50. https://doi.org/10.2345/tbjmp.01.2021.76
Giấy phép xuất bản bản in số 797/GP-BTTTT ngày 06/12/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông
© 2022 Trường Đại học Y khoa Vinh - Xây dựng bởi OJSVN